Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và khát vọng hiện thực hóa tầm nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về một nước Việt Nam giàu mạnh “sánh vai với các cường quốc năm châu”
1. Mở đầu
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra từ ngày 19 đến 23 tháng 01 năm 2026 tại Thủ đô Hà Nội là một sự kiện chính trị đặc biệt, khởi đầu kỷ nguyên phát triển mới của đất nước. Đại hội không chỉ kế thừa và phát huy những thành quả của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nhất là của công cuộc đổi mới đất nước bốn thập kỷ qua, mà còn đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy lãnh đạo và tầm nhìn chiến lược của Đảng nhằm xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, ngày càng có vị thế, uy tín cao trên trường quốc tế. Có thể khẳng định rằng, Đại hội XIV của Đảng chính là sự tiếp nối và từng bước hiện thực hóa tư tưởng, tầm nhìn và khát vọng về một nước Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử mới.

Quang cảnh phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XIV của Đảng cộng sản Việt Nam
2. Tầm nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về một Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu”
Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh thực dân Pháp xâm lược và thống trị đồng bào, các phong trào yêu nước lần lượt vụt tắt, đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo. Như nhiều thanh niên yêu nước lúc bấy giờ, Người đã nung nấu ý chí tìm con đường cứu nước, đánh đổ đế quốc, thực dân để giành độc lập, tự do cho dân tộc. Chính vì vậy, với lòng yêu nước nồng nàn và khát vọng giải phóng dân tộc luôn rực cháy, vào ngày 05/06/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã bắt đầu cuộc hành trình đi tìm con đường cứu nước, giải phóng cho dân tộc.
Không dừng lại ở mục tiêu giành độc lập dân tộc, Người sớm nhận thức rằng độc lập chỉ thật sự có ý nghĩa trọn vẹn khi gắn liền với tự do, hạnh phúc của nhân dân và đất nước phải có thực lực để hội nhập bình đẳng với thế giới. Người từng nói: “Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(1). Bởi vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định khát vọng lớn lao về tương lai đất nước Việt Nam độc lập, tự do, hùng cường “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Trong bức thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 15 tháng 09 năm 1945, Người khẳng định: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”(2). Theo Người, “sánh vai với các cường quốc năm châu” không chỉ là sánh về sức mạnh vật chất mà là sự sánh vai toàn diện về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ nghệ, về vị thế chính trị và uy tín quốc tế. Đồng thời đó là sự sánh vai trên nền tảng độc lập dân tộc, tôn trọng chủ quyền quốc gia và con đường phát triển phù hợp với điều kiện, bản sắc của Việt Nam. Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, “sánh vai với các cường quốc năm châu” không phải là sự chạy đua quyền lực mà là sự sánh vai về trí tuệ, văn hóa, kinh tế, khoa học – công nghệ và phẩm giá dân tộc, trong đó Việt Nam vừa giữ vững bản sắc, độc lập tự chủ, vừa đóng góp tích cực cho hòa bình, hợp tác và tiến bộ của nhân loại.
Có thể khẳng định, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành một quốc gia phát triển, có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng Hồ Chí Minh, là khát vọng vừa dân tộc vừa mang tầm nhìn thời đại, vừa hiện tại, vừa tương lai. Khát vọng ấy không chỉ là ước mơ cá nhân của Người, mà là kết tinh của ý chí tự lực, tự cường, của truyền thống yêu nước và không ngừng vươn lên của cả dân tộc Việt Nam sau hàng thế kỷ đấu tranh chống áp bức, nô dịch. Tư tưởng này phản ánh tầm nhìn chiến lược và chiều sâu nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
3. Đại hội XIV của Đảng và mục tiêu hiện thực hoá tầm nhìn về một Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu”
Mệnh lệnh của lịch sử và yêu cầu của thời đại
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên định vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, coi khát vọng phát triển đất nước hùng cường là mục tiêu nhất quán, xuyên suốt. Sau bốn thập kỷ thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, có ý nghĩa trên mọi phương diện. Khó có thể tưởng tượng nổi một dân tộc nào trong thế kỷ XX, chịu nhiều đau thương, mất mát như Việt Nam khi bước ra khỏi đống đổ nát của chiến tranh, tiếp tục bị bao vây cấm vận tới 20 năm ròng, nền kinh tế có thời điểm tăng trưởng âm, nhưng trong bốn thập kỷ đổi mới (1986-2025) luôn duy trì tốc độ tăng trưởng dương và có giai đoạn khá cao, quy mô GDP không ngừng mở rộng. Đặc biệt, năm 2025, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới với quy mô GDP đạt 514 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,02% (GDP toàn cầu dự báo đạt khoảng 3,2%), kim ngạch xuất nhập khẩu lập kỷ lục trên 930 tỷ USD; thu nhập bình quân đầu người đạt 5.026 USD (3). Trong bối cảnh tình hình thế giới có những biến động khôn lường, bất ngờ và bất lợi nhưng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, môi trường hòa bình được giữ vững; chính trị - xã hội ổn định, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện; đối ngoại, hội nhập quốc tế được mở rộng, nâng tầm, đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín quốc tế ngày càng được nâng cao.
Hãy làm một phép so sánh: nếu như thời điểm đất nước tiến hành đổi mới năm 1986 quy mô nền kinh tế chưa đầy 5 tỷ USD nhưng đến năm 2025 đạt 514 tỷ USD (tăng gấp 114 lần); thu nhập bình quân đầu người khoảng 74 USD nhưng đến năm 2025 đạt 5.026 USD (tăng gấp 68 lần); từ xuất phát điểm là một nước nghèo đói, Việt Nam đã trở thành nước có mức thu nhập trung bình cao; Việt Nam là hình mẫu trong xoá đói giảm nghèo chỉ trong một thế hệ; trong quan hệ quốc tế, từ chỗ bị bao vây, cấm vận về kinh tế, cô lập về chính trị, ngày nay Việt Nam có quan hệ đầy đủ với tất cả 193 nước thành viên Liên hiệp quốc; nâng cấp quan hệ ở mức cao nhất – đối tác chiến lược toàn diện với 15 quốc gia và tổ chức, trong đó có đầy đủ cả 5 thành viên thường trực của Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc. Điều này là hiếm có trên thế giới.
Những thành tựu nói trên đã tạo dựng cơ đồ ngày càng vững chắc, tiềm lực ngày một lớn mạnh, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước trên trường quốc tế đồng thời tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của mô hình phát triển, vai trò lãnh đạo và uy tín của Đảng, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, tạo tiền đề quan trọng để đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, hiện thực hóa khát vọng phát triển Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ra từ rất sớm.
Tuy nhiên, bối cảnh mới cũng đặt ra nhiều thách thức lớn. Cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia, tác động của biến đổi khí hậu, yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, sự bùng nổ của khoa học – công nghệ và chuyển đổi số và nhiều vấn đề toàn cầu khác như thiên tai, dịch bệnh đặt ra cho đất nước ta những nhiệm vụ mới, cao hơn, toàn diện hơn. Nếu không có quyết tâm chính trị cao, có tầm nhìn chiến lược và bản lĩnh kiên cường, giải pháp đột phá, khát vọng phát triển đủ lớn, hành động quyết liệt, thì Việt Nam sẽ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, khó thu hẹp khoảng cách phát triển với các nước tiên tiến trên thế giới. Thực tế cho thấy, để trở thành nền kinh tế trong Tổ chức Hợp tác và phát triền kinh tế (OECD), Hàn Quốc trong 30 năm (1960 - 1990) tăng trưởng GDP trung bình đạt 9,58%/năm, trong đó có 14 năm đạt mức tăng trưởng trên 10%; cao nhất là năm 1973 đạt 14,8% ; Trung Quốc trong 30 năm cải cách, mở cửa (1978 - 2007), tăng trưởng GDP bình quân là 10,02%/năm; trong đó có 15 năm tăng trưởng GDP đạt hơn 10%, cao nhất là năm 1984 đạt 15,14%. Năm 2010, Trung Quốc đã vượt Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới từ thời điểm đó đến nay. Với Việt Nam, tốc độ tăng trưởng GDP có xu hướng giảm dần, từ mức tăng bình quân 7,56% trong giai đoạn 1991-2000 xuống còn trung bình 7,26% giai đoạn 2001-2010 và 5,95% trong giai đoạn 2011-2020; giai đoạn 2021-2025 là 6,3%.
Xuất phát từ thực tế trên chúng ta thấy, đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, giàu mạnh là mệnh lệnh của lịch sử và yêu cầu thời đại. Trong bối cảnh đó, Đại hội XIV của Đảng là được đánh giá là sự kiện trọng đại, mang tính định hướng chiến lược, khẳng định quyết tâm chính trị cao nhằm đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, từng bước hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu” theo tư tưởng Hồ Chí Minh bằng những quyết sách và bước đi cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước.

Tổng Bí thư Tô Lâm thay mặt Đoàn Chủ tịch trình bày báo cáo về các văn kiện trình đại hội
Mục tiêu, tầm nhìn, quyết sách chiến lược và khát vọng phát triển
Đứng trước đòi hỏi của lịch sử và yêu cầu của thời đại, với phương châm “Đoàn kết - dân chủ - kỷ cương - đột phá - phát triển”, Đại hội XIV của Đảng khởi đầu kỷ nguyên mới với đường lối, quyết sách chiến lược mang tính quyết định đến vận mệnh của dân tộc trong tương lai nhằm thực hiện thành công hai mục tiêu 100 năm: đến năm 2030, nhân dịp kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 nhân dịp kỷ niệm 100 năm thành lập nước, Việt Nam trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên, GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD/năm(4).
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Báo cáo chính trị trình Đại hội đã xác định 12 định hướng lớn; 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược. Chương trình hành động đã cụ thể hoá các nhiệm vụ triển khai thực hiện ngay gồm 8 nội dung cốt lõi với yêu cầu làm thật mạnh, làm thật nhanh, làm đến nơi đến chốn. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử các kỳ đại hội, Đại hội XIV ban hành Chương trình hành động kèm theo Nghị quyết - một bước đột phá nhằm bảo đảm Nghị quyết đi ngay vào cuộc sống. Chương trình hành động kèm theo Nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu “lựa chọn đúng - triển khai nhanh - làm đến nơi đến chốn - đo lường bằng kết quả” đối với mọi nhiệm vụ. Tư tưởng “Dân là gốc” được quán triệt xuyên suốt: Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc phát triển, mọi chính sách đều hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; đồng thời đề cao việc tôn trọng, lắng nghe và phát huy vai trò làm chủ của Nhân dân. Nhờ thế, Nghị quyết Đại hội XIV không dừng ở tầm nhìn và định hướng, mà đã mang trong mình hơi thở của cuộc sống, khơi dậy khát vọng phát triển và động lực hành động mạnh mẽ, sẵn sàng đi vào thực tiễn ngay sau Đại hội. Nghị quyết Đại hội XIV thực sự trở thành một cẩm nang hành động của Đảng và cả hệ thống chính trị, là “ngọn đuốc soi đường” trên con đường phát triển mới(5).
Đại hội XIV không chỉ là sự tiếp nối chặng đường hơn 96 năm phấn đấu bền bỉ của toàn dân ta qua hai kỷ nguyên phát triển kể từ ngày có Đảng: Kỷ nguyên thứ nhất là kỷ nguyên độc lập, tự do (1930-1975); Kỷ nguyên thứ hai là kỷ nguyên thống nhất, đổi mới và phát triển từ năm 1975 đến nay mà còn là mốc son đặc biệt, mở ra kỷ nguyên phát triển bứt phá, tăng tốc – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Những quyết sách của Đại hội XIV của Đảng là bước cụ thể hóa khát vọng “sánh vai với các cường quốc năm châu” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, thể hiện tầm nhìn chiến lược và bản lĩnh chính trị của Đảng.
4. Kết luận
Đại hội XIV không chỉ là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, mà còn mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc trong tiến trình hiện thực hóa khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam. Đại hội đã tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện Việt Nam, đồng thời mở ra những định hướng chiến lược mang tính đột phá, đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Với tầm nhìn dài hạn, quyết tâm chính trị cao và những định hướng phát triển toàn diện, giải pháp đột phá, Đại hội XIV đã và đang đặt nền móng vững chắc để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, phồn vinh và hạnh phúc, từng bước khẳng định vị thế xứng đáng trên trường quốc tế. Đây chính là sự tiếp nối sinh động và thuyết phục nhất khát vọng, tầm nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về một nước Việt Nam giàu mạnh trong điều kiện lịch sử mới, đồng thời là minh chứng cho sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với dân tộc hôm nay và mai sau.
Tài liệu tham khảo:
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, HN, 2011, tập 4, tr.187
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập , tr.4, tr.33-35
- https://baochinhphu.vn/gdp-nam-2025-tang-truong-802-binh-quan-dau-nguoi-dat-5026-usd-102260105152509472.htm
- https://vtv.vn/toan-van-bao-cao-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiii-ve-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiv-cua-dang-100260120093250436.htm
- https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/tien-len-toan-thang-at-ve-ta-
ẢNH 1

ẢNH 2

PGS.TS Phan Thị Thoa - Trưởng bộ môn Lịch sử Đảng và Tư tưởng Hồ Chí Minh